Không có một cá nhân cụ thể nào "làm ra" số La Mã
; đó là một hệ thống phát triển dần dần bởi người La Mã cổ đại từ hệ thống số của người Etruscan trước đó, bắt nguồn từ khoảng thế kỷ 9 TCN, có thể liên quan đến các ký hiệu đếm bằng que hoặc tín hiệu tay. Hệ thống này sử dụng các chữ cái Latinh (I, V, X, L, C, D, M) để biểu thị giá trị và được hoàn thiện qua thời gian.
Nguồn gốc và Phát triển:
; đó là một hệ thống phát triển dần dần bởi người La Mã cổ đại từ hệ thống số của người Etruscan trước đó, bắt nguồn từ khoảng thế kỷ 9 TCN, có thể liên quan đến các ký hiệu đếm bằng que hoặc tín hiệu tay. Hệ thống này sử dụng các chữ cái Latinh (I, V, X, L, C, D, M) để biểu thị giá trị và được hoàn thiện qua thời gian.
Nguồn gốc và Phát triển:
- Ảnh hưởng Etruscan: Người La Mã đã mượn các ký hiệu cơ bản từ người Etruscan, như ⟨𐌠⟩ (I), ⟨𐌡⟩ (V), ⟨𐌢⟩ (X), ⟨𐌣⟩ (L), ⟨𐌟⟩ (C).
- Sự tiến hóa: Các ký hiệu này dần dần được chuẩn hóa thành I, V, X, L, C, D, M như chúng ta biết ngày nay. Chữ V có thể xuất phát từ ký hiệu Etruscan đảo ngược, và chữ D (500) có thể mất đi vạch giữa của ký hiệu Etruscan.
- Mục đích: Ban đầu, số La Mã dùng để đếm và ghi chép trong giao dịch thương mại, sau đó được dùng rộng rãi trong Đế chế La Mã.
- Kết hợp ký hiệu: Sử dụng quy tắc cộng và trừ các ký hiệu (ví dụ: IV = 4, IX = 9).
- Không có số 0: Hệ thống này không có ký hiệu cho số không, khác với hệ thập phân hiện đại.