Các nạn nhân
[sửa | sửa mã nguồn]Đêm trước ngày hành quyết, Bundy đã thú nhận về 30 vụ giết người, nhưng tổng số nạn nhân thực sự vẫn là điều bí ẩn. Các ước tính được công bố lên tới 100 nạn nhân hoặc có thể còn cao hơn,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-362"><span>[</span>360<span>]</span></a> Bundy đôi lúc còn đưa ra những bình luận khó hiểu để khuyến khích các suy đoán.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTENelson1994257-300"><span>[</span>298<span>]</span></a> Anh nói với Hugh Aynesworth vào năm 1980 là cứ mỗi vụ giết người được "công khai" thì sẽ "có thể có một vụ được giấu kín".<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth1999199-363"><span>[</span>361<span>]</span></a> Khi các điều tra viên FBI đề xuất con số 36, Bundy trả lời, "Thêm một chữ số vào là sẽ có con số nạn nhân thật sự."<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule2000335-364"><span>[</span>362<span>]</span></a> Nhiều năm sau, anh nói với luật sư Polly Nelson rằng ước tính chung khoảng 35 nạn nhân là chính xác,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTENelson1994257-300"><span>[</span>298<span>]</span></a> nhưng Robert Keppel lại viết "Ted và tôi đều biết tổng số cao hơn nhiều." "Tôi không nghĩ anh ta thậm chí biết được... mình từng giết bao nhiêu người, và tại sao lại giết họ,"<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel2005399–400-71"><span>[</span>71<span>]</span></a> Fred Lawrence, linh mục Giám lý, người phụ trách các hoạt động tôn giáo cuối cùng của Bundy nói. "Đó là ấn tượng của tôi, một ấn tượng mạnh mẽ."<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEVon_Drehle1995363-365"><span>[</span>363<span>]</span></a>
Vào buổi tối trước khi lên ghế điện, Bundy đã cùng Bill Hagmaier kiểm điểm số nạn nhân của anh ta trên từng tiểu bang trong tổng 30 vụ giết người:<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth1999339-270"><span>[</span>268<span>]</span></a>
- Ở Washington, 11 người (bao gồm cả Parks, bị bắt cóc ở Oregon nhưng bị giết ở Washington. Trong đó có 3 người không xác định được danh tính)
- Ở Utah, 8 người (3 người không xác định được danh tính)
- Ở Colorado, 3 người
- Ở Florida, 3 người
- Ở Oregon, 2 người (đều không xác định được danh tính)
- Ở Idaho, 2 người (1 người không xác định được danh tính)
- Ở California, 1 người không xác định được danh tính
1974
[sửa | sửa mã nguồn]
[sửa | sửa mã nguồn]- Ngày 4 tháng 1: Karen Sparks (thường có tên Joni Lenz trong các tiểu sử về Ted Bundy) (18 tuổi): Bị hành hung và tấn công tình dục trên giường khi đang ngủ;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth199928-79"><span>[</span>79<span>]</span></a> sống sót.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTESullivan200914-77"><span>[</span>77<span>]</span></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule200957-74"><span>[</span>74<span>]</span></a>
- Ngày 1 tháng 2: Lynda Ann Healy (21 tuổi): Bị đánh bất tỉnh và bắt cóc khi đang ngủ;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule200960–62-80"><span>[</span>80<span>]</span></a> hộp sọ và xương hàm của cô được tìm thấy tại khu vực núi Taylor.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel200525–30-117"><span>[</span>117<span>]</span></a>
- Ngày 12 tháng 3: Donna Gail Manson (19 tuổi): Bị bắt cóc khi đang đi bộ đến một buổi hòa nhạc tại trường Cao đẳng bang Evergreen; theo lời Bundy, di hài của cô nằm tại núi Taylor, nhưng không bao giờ được tìm thấy.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule2000516-277"><span>[</span>275<span>]</span></a>
- Ngày 17 tháng 4: Susan Elaine Rancourt (18 tuổi): Biến mất sau khi đi gặp mặt các cố vấn vào buổi tối tại Đại học tiểu bang trung tâm Washington;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel200542–46-83"><span>[</span>83<span>]</span></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth199931–33-84"><span>[</span>84<span>]</span></a>xương sọ và xương hàm của cô được tìm thấy tại núi Taylor vào năm 1975.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel200525–30-117"><span>[</span>117<span>]</span></a>
- Ngày 6 tháng 5: Roberta Kathleen Parks (22 tuổi): Biến mất tại Đại học bang Oregon ở Corvallis; hộp sọ và xương hàm của cô được tìm thấy tại khu vực núi Taylor vào năm 1975.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel200525–30-117"><span>[</span>117<span>]</span></a>
- Ngày 1 tháng 6: Brenda Carol Ball (22 tuổi): Biến mất sau khi rời Flame Tavern ở Burien;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule200975–76-85"><span>[</span>85<span>]</span></a> hộp sọ và xương hàm của cô được tìm thấy tại khu vực núi Taylor vào năm 1975.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel200525–30-117"><span>[</span>117<span>]</span></a>
- Ngày 11 tháng 6: Georgann Hawkins (thường viết sai chính tả thành "Georgeann Hawkins"<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth199937-88"><span>[</span>88<span>]</span></a>) (18 tuổi): Bị bắt cóc từ một con hẻm phía sau ngôi nhà nữ sinh của cô tại UW;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule200982-89"><span>[</span>89<span>]</span></a> phần hài cốt mà Bundy xác định là của Hawkins được tìm thấy tại Issaquah.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel200518-116"><span>[</span>116<span>]</span></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-366"><span>[</span>364<span>]</span></a>
- Ngày 14 tháng 7: Janice Ann Ott (23 tuổi): Bị bắt cóc tại Công viên tiểu bang hồ Sammamish vào ban ngày;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel20053–6-106"><span>[</span>106<span>]</span></a> hài cốt của cô được tìm thấy tại Issaquah vào năm 1975.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel20058–15-115"><span>[</span>115<span>]</span></a>
- Ngày 14 tháng 7: Denise Marie Naslund (19 tuổi): Bị bắt cóc bốn giờ sau Ott từ cùng một công viên;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule200999–101-107"><span>[</span>107<span>]</span></a> hài cốt của cô được tìm thấy tại Issaquah vào năm 1975.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel20058–15-115"><span>[</span>115<span>]</span></a>
Utah
[sửa | sửa mã nguồn]- Ngày 2 tháng 10: Nancy Wilcox (16 tuổi): Bị phục kích, hành hung và siết cổ ở Holladay, Utah;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth199991-124"><span>[</span>124<span>]</span></a> theo lời Bundy, thi hài của cô được chôn cất gần Vườn quốc gia Capitol Reef, 200 dặm (320 km) về phía nam Salt Lake, nhưng không bao giờ tìm thấy.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-Psychics-126"><span>[</span>126<span>]</span></a>
- Ngày 18 tháng 10: Melissa Anne Smith (17 tuổi): Mất tích khỏi Midvale, Utah; thi thể của cô được tìm thấy chín ngày sau, ở khu vực miền núi gần đó.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTESullivan200996-127"><span>[</span>127<span>]</span></a>
- Ngày 31 tháng 10: Laura Ann Aime (17 tuổi): Biến mất khỏi Lehi, Utah; bị bạo dâm và kê gian; thi thể của cô được phát hiện bởi những người đi bộ đường dài ở hẻm núi American Fork.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-Bell-KillingSpree-131"><span>[</span>131<span>]</span></a>
- Ngày 8 tháng 11: Carol DaRonch (18 tuổi): Suýt bị bắt cóc ở Murray, Utah; cô vùng thoát khỏi xe của Bundy và sống sót.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth199993–95-136"><span>[</span>136<span>]</span></a>
- Ngày 8 tháng 11: Debra Jean Kent (17 tuổi): Mất tích sau khi rời một vở kịch của trường ở Bountiful, Utah; theo lời Bundy, di hài của Kent ở gần Fairview, bang Utah, 100 dặm (160 km) về phía nam Bountiful; một phần xương bánh chè của cô được tìm thấy vào năm 2015, xác định qua giám định DNA.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-:0-175"><span>[</span>175<span>]</span></a><a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-Schulte2006-367"><span>[</span>365<span>]</span></a>
1975
[sửa | sửa mã nguồn]
[sửa | sửa mã nguồn]- Ngày 12 tháng 1: Caryn Eileen Campbell (23 tuổi): Biến mất khỏi hành lang nhà trọ ở Snowmass, Colorado;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule1989126-143"><span>[</span>143<span>]</span></a> thi thể của cô được phát hiện 36 ngày sau, trên một con đường đất gần khách sạn.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule2000132–36-144"><span>[</span>144<span>]</span></a>
- Ngày 15 tháng 3: Julie Cunningham (26 tuổi): Biến mất khi trên đường đến một quán rượu ở Vail, Colorado;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel2005402–07-145"><span>[</span>145<span>]</span></a> theo lời Bundy, thi thể của cô được chôn cất gần Rifle, 90 dặm (140 km) về phía tây của Vail, nhưng không bao giờ tìm thấy.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-Jackson2002-368"><span>[</span>366<span>]</span></a>
- Ngày 6 tháng 4: Denise Lynn Oliverson (25 tuổi): Bị bắt cóc khi đang đạp xe về nhà bố mẹ đẻ ở Grand Junction, Colorado;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth1999110-148"><span>[</span>148<span>]</span></a> theo lời Bundy, thi thể của Oliverson bị anh phi tang xuống sông Colorado, 5 dặm (8,0 km) về phía tây Grand Junction,<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel2010Kindle_location_9046-369"><span>[</span>367<span>]</span></a> nhưng không bao giờ tìm thấy.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-CBIColdCase1-370"><span>[</span>368<span>]</span></a>
- Ngày 6 tháng 5: Lynette Dawn Culver (12 tuổi): Bị bắt cóc từ trường trung học cơ sở Alameda ở Pocatello, Idaho;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTESullivan2009137–38-149"><span>[</span>149<span>]</span></a> theo lời Bundy, thi thể của Culver bị anh phi tang dưới một dòng sông, mà giới chức tin là sông Snake, nhưng không bao giờ được tìm thấy.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-Culver-150"><span>[</span>150<span>]</span></a>
- Ngày 28 tháng 6: Susan Curtis (15 tuổi): Biến mất trong một hội nghị thanh niên tại Đại học Brigham Young;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEMichaudAynesworth1999343-154"><span>[</span>154<span>]</span></a> theo lời Bundy, thi thể của cô được chôn cất gần Price, Utah, 75 dặm (121 km) về phía đông nam Provo, nhưng không bao giờ tìm thấy.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTEKeppel2010Kindle_location_9040-371"><span>[</span>369<span>]</span></a>
1978
[sửa | sửa mã nguồn]Florida
[sửa | sửa mã nguồn]- Ngày 15 tháng 1: Margaret Elizabeth Bowman (21 tuổi): Bị hành hung và bóp cổ khi đang ngủ, tại hội nữ sinh Chi Omega, FSU (không có hiện trường vụ án thứ cấp)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule2009334–43-372"><span>[</span>370<span>]</span></a>
- Ngày 15 tháng 1: Lisa Levy (20 tuổi): Bị hành hung, bóp cổ và tấn công tình dục khi đang ngủ, tại hội nữ sinh Chi Omega, FSU (không có hiện trường vụ án thứ cấp)<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule2009334–43-372"><span>[</span>370<span>]</span></a>
- Ngày 15 tháng 1: Karen Chandler (21 tuổi): Bị hành hung khi đang ngủ, tại hội nữ sinh Chi Omega, FSU; sống sót.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule2009334–43-372"><span>[</span>370<span>]</span></a>
- Ngày 15 tháng 1: Kathy Kleiner (21 tuổi): Bị hành hung khi đang ngủ, tại hội nữ sinh Chi Omega, FSU; sống sót.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule2009334–43-372"><span>[</span>370<span>]</span></a>
- Ngày 15 tháng 1: Cheryl Thomas (21 tuổi): Bị hành hung khi đang ngủ, cách Chi Omega 8 dãy nhà; sống sót.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTERule2009334–43-372"><span>[</span>370<span>]</span></a>
- Ngày 9 tháng 2: Kimberly Dianne Leach (12 tuổi): Bị bắt cóc từ trường trung học cơ sở đang theo học tại Lake City, Florida;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FOOTNOTENelson1994319-12"><span>[</span>12<span>]</span></a> phần thi thể khô của cô được tìm thấy gần Vườn tiểu bang sông Suwannee, 43 dặm (69 km) về phía tây Lake City.<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ted_Bundy#cite_note-FL-HighwayPatrol-220"><span>[</span>218<span>]</span></a>
Xem thêm chủ đề cùng danh mục
- Cuộc Đối Thoại Giữa Thời Gian Và Không Gian
- Vị vua đầu tiên của nhân loại ✨
- Ai là người thông minh nhất lịch sử nhân loại🌍
- Ai là người tài giỏi nhất trong mưu kế, chiến thuật📜
- Khổng Minh tài gioti cỡ nào
- 🔥 “Những kế sách nổi tiếng nhất của Khổng Minh (nghe như phim luôn)”📚
- Khổng Minh (諸葛亮) là ai? 🧠⚔️
- 😱 “Những sự thật lịch sử nghe như phim nhưng là thật 100%”
- Những điều thú vị về lịch sử🤫🤔🌍
- sông ngòi là gì