Template errors

  • Template public:thread_view: [E_USER_WARNING] Filter array_values is unknown (src/XF/Template/Templater.php:1165)
  • Template public:thread_view: [E_USER_WARNING] Filter slice is unknown (src/XF/Template/Templater.php:1165)
  • Template public:thread_view: [E_USER_WARNING] Filter array_reverse is unknown (src/XF/Template/Templater.php:1165)

Câu lạc bộ Tin học dành cho học sinh Tiểu học

ĐỀ TOÁN HAVARD — Analysis / Topology)

Trạng thái

♥ Lượt xem: 46
♥ Lượt phản hồi: 0

Finl-hedge - Vũ Hoàng Quân

name roblox: finleyreginald
Cộng tác viên
Tham gia
28/10/2025
Bài viết
520
Điểm Like
2,299
Điểm Uy tín
5,230
Tuổi Sửu
Tí Tinh Tế
Miu Mềm Mại
Rồng Rực Rỡ
Tỵ Tinh Tường
Heo Hiền Hậu
Tuổi Mùi
Phù điêu Hổ
Phù điêu Rồng
Hổ Hào Hiệp
Ngựa Ngộ Nghĩnh
Dê Dịu Dàng
Tích cực hoạt động
Chứng minh: Trong không gian C([0,1])C([0,1])C([0,1]) (các hàm thực liên tục trên [0,1][0,1][0,1]) với chuẩn supremum ∥f∥∞=sup⁡x∈[0,1]∣f(x)∣\|f\|_\infty=\sup_{x\in[0,1]}|f(x)|∥f∥∞=supx∈[0,1]∣f(x)∣, tập các hàm không khả vi tại mọi điểm (nowhere-differentiable functions) là tập điển hình (residual, tức là phần bù của một union đếm được các tập nowhere-dense). Nói cách khác, “hầu hết” các hàm liên tục là không khả vi.
Ngoài ra, hãy cho ví dụ cụ thể một hàm liên tục nhưng không khả vi (Weierstrass) và minh họa đồ thị của nó.




Lời giải (chi tiết — từng bước, dễ theo)​


Mình chia giải thành hai phần: (I) lý thuyết Baire → chứng minh ‘hầu hết’ các hàm liên tục là không khả vi; (II) ví dụ cụ thể — hàm Weierstrass (đồ thị kèm hình).




I. Phần lý thuyết: Baire category — ý tưởng và chứng minh​


Ý tưởng chính. Ta sẽ biểu diễn tập các hàm khả vi tại ít nhất một điểm như một hợp đếm được của các tập đóng có nội thất rỗng (nowhere dense). Khi đó phần bù (các hàm không khả vi ở mọi điểm) là một giao của các tập mở dense, tức là residual (comeager). Theo Baire category theorem, trong không gian hoàn chỉnh Baire, một tập residual là “lớn” (dense GδG_\deltaGδ). Vì vậy hầu hết các hàm liên tục là không khả vi.


Bước 1 — Ghi nhớ cấu trúc không gian.
Không gian X=C([0,1])X=C([0,1])X=C([0,1]) với chuẩn sup ∥⋅∥∞\|\cdot\|_\infty∥⋅∥∞ là một không gian Banach (đầy đủ metric). Do đó Baire theorem áp dụng.


Bước 2 — Định nghĩa các tập phụ Tm,nT_{m,n}Tm,n.
Để diễn tả “khả vi tại một điểm”, ta nói: hàm fff khả vi tại điểm x0x_0x0 khi

lim⁡h→0f(x0+h)−f(x0)h\lim_{h\to0} \frac{f(x_0+h)-f(x_0)}{h}h→0limhf(x0+h)−f(x0)
tồn tại (từ trái/phải). Ta xây các tập chứa các hàm “có đạo hàm ước lượng bạch theo tham số”.


Cụ thể, cho m,n∈Nm,n\in\mathbb{N}m,n∈N đặt:

Tm,n={f∈C([0,1]):∃x∈[0,1] such that ∀ 0<∣h∣<1n, ∣f(x+h)−f(x)h∣≤m}.T_{m,n} = \Big\{ f\in C([0,1]) : \exists x\in[0,1] \text{ such that } \forall\,0<|h|<\tfrac{1}{n},\ \Big|\frac{f(x+h)-f(x)}{h}\Big|\le m \Big\}.Tm,n={f∈C([0,1]):∃x∈[0,1] such that ∀0<∣h∣<n1, hf(x+h)−f(x)≤m}.
Nghĩa là: có một điểm xxx nơi đạo hàm (tỉ lệ) tuyệt đối bị chặn bởi mmm cho mọi bước nhỏ hơn 1/n1/n1/n. Nếu hàm khả vi tại xxx, thì tỉ lệ độ dốc gần đó sẽ có giới hạn hữu hạn, nên sẽ thuộc ít nhất một Tm,nT_{m,n}Tm,n. Vì vậy, tập các hàm “khả vi ở ít nhất một điểm” là

T=⋃m=1∞⋃n=1∞Tm,n.T = \bigcup_{m=1}^\infty \bigcup_{n=1}^\infty T_{m,n}.T=m=1⋃∞n=1⋃∞Tm,n.
Bước 3 — Mỗi Tm,nT_{m,n}Tm,n đóng và có nội thất rỗng (nowhere dense).


  • Đóng: Nếu một dãy fk∈Tm,nf_k\in T_{m,n}fk∈Tm,n hội tụ đều (theo sup-norm) đến fff, thì ta có điểm xkx_kxk (ứng với mỗi fkf_kfk) với property slope bound. Ta có thể chọn một điểm tích lũy xxx của xkx_kxk (do [0,1] là compact). Lấy giới hạn trong bất đẳng thức slope (vì hội tụ đều cho phép chuyển giới hạn trong sai số), suy ra fff cũng thỏa điều kiện tại xxx. Vì vậy Tm,nT_{m,n}Tm,n là đóng.
  • Không có nội thất (nowhere dense): Ta cần chứng minh rằng trong bất kỳ ball mở (theo sup-norm) B(f0,ε)B(f_0,\varepsilon)B(f0,ε), tồn hàm ggg trong ball đó nhưng không thuộc Tm,nT_{m,n}Tm,n. Ý tưởng: làm biến đổi nhỏ có dao động cao — thêm vào f0f_0f0 một dao động nhỏ của dạng δ⋅sin⁡(Kx)\delta \cdot \sin(Kx)δ⋅sin(Kx) với K rất lớn (chiều tần cao) để phá tính chặn của tỉ lệ sai phân; vì ta có thể làm biên độ δ\deltaδ rất nhỏ để giữ trong ball, nhưng tần số cao làm slope lớn. Cụ thể: chọn KKK lớn sao cho δK...\frac{\delta K}{...}...δK lớn hơn m; xây hàm g=f0+δsin⁡(Kx)g=f_0 + \delta \sin(Kx)g=f0+δsin(Kx). Khi K đủ lớn, ở mọi điểm x và đủ bước h, tỉ lệ g(x+h)−g(x)h\frac{g(x+h)-g(x)}{h}hg(x+h)−g(x) sẽ trở nên lớn (tùy chọn h nhỏ dẫn tới ~δKcos⁡(Kx)\delta K \cos(Kx)δKcos(Kx)), do đó không thể bị chặn bởi mmm. Mặt khác, vì δ\deltaδ nhỏ ta vẫn ở trong ball. Điều này cho thấy Tm,nT_{m,n}Tm,n không chứa ball mở nào ⇒ interior empty ⇒ nowhere dense.

(Để formal: kỹ thuật này cần một bằng chứng chi tiết: cho mọi ε\varepsilonε và mọi f0f_0f0 chọn δ<ε\delta<\varepsilonδ<ε và KKK sao cho δK>m\delta K>mδK>m. Xét g=f0+δsin⁡(Kx)g=f_0+\delta\sin(Kx)g=f0+δsin(Kx). Với h=π/(2K)h=\pi/(2K)h=π/(2K) nhỏ, ước lượng ∣g(x+h)−g(x)∣/h≈δK|g(x+h)-g(x)|/h \approx \delta K∣g(x+h)−g(x)∣/h≈δK, suy ra vượt quá m cho nhiều x; do đó g∉T_{m,n}.)


Bước 4 — Kết luận bằng Baire.
Vì mỗi Tm,nT_{m,n}Tm,n đóng và nowhere dense, T=⋃m,nTm,nT=\bigcup_{m,n} T_{m,n}T=⋃m,nTm,n là hợp đếm được của các tập nowhere dense — tức là một tập meager (first category). Do đó phần bù C([0,1])∖TC([0,1])\setminus TC([0,1])∖T là residual (một GδG_\deltaGδ dense set). Phần bù này chính là các hàm không khả vi tại mọi điểm (nowhere-differentiable). Vậy “hầu hết” các hàm liên tục là không khả vi.




II. Phần ví dụ: Hàm Weierstrass — một hàm liên tục nhưng không khả vi, đồ thị minh họa​


Hàm Weierstrass (một dạng):

W(x)=∑n=0∞ancos⁡(bn2πx),W(x)=\sum_{n=0}^\infty a^n \cos(b^n 2\pi x),W(x)=n=0∑∞ancos(bn2πx),
với 0<a<10<a<10<a<1, bbb một số nguyên lẻ lớn sao cho ab>1+3π2ab>1+\tfrac{3\pi}{2}ab>1+23π (một trong các điều kiện đảm bảo không khả vi). Với các tham số như a=0.6,b=11a=0.6, b=11a=0.6,b=11 (dùng trong hình minh họa), chuỗi hội tụ đều ⇒ WWW liên tục; tuy nhiên chuỗi dao động ở các tần số ngày càng cao và biên độ không giảm đủ nhanh, dẫn tới không khả vi tại mọi điểm.

Tóm tắt ngắn gọn​


  • Ta đã chứng minh bằng Baire category theorem rằng tập các hàm nowhere-differentiable là residual trong C([0,1])C([0,1])C([0,1]) → “đa số” hàm liên tục là không khả vi.
  • Ta đã cung cấp ví dụ cụ thể (Weierstrass) và hình minh họa để trực quan hoá sự “gai góc” ở mọi tỉ lệ.
 

Trạng thái

♥ Lượt xem: 46
♥ Lượt phản hồi: 0

Back
Trên Bottom